Tứ Hóa (tinh) tức là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ. Tác dụng của Hóa Lộc thể hiện ở phương diện tài lợi, hanh thông, chế ngự sát khí; tác dụng của Hóa Quyền thể hiện ở quyền lực, quyền uy, lòng tin, ý chí và địa vị; tác dụng của Hóa Khoa thể hiện ở trí tuệ, danh tiếng hoặc danh dự, sự có trật tự; tác dụng của Hóa Kỵ thể hiện ở quấy nhiễu hoặc không thuận, lực yếu đi, suy thoái, bốc đồng, dẫn phát kỵ sát.

Thông thường, trong Tứ Hóa thì Lộc, Quyền, Khoa là Hóa cát, đại diện cho các hiện tượng cát lành, còn Kỵ là Hóa sát (tức là Kỵ), đại diện cho hiện tượng hung hiểm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự cát hung của Tứ Hóa và mức độ ảnh hưởng của chúng còn liên quan đến bản thân sao và tổ hợp các sao, vì vậy không thể chỉ dựa vào tác dụng của Tứ Hóa mà đưa ra phán đoán.

Tác dụng của Tứ Hóa có thể ví như chất xúc tác hay chất kích hoạt cho những biến đổi ở từng giai đoạn khác nhau trong cuộc đời con người (chú thích 1), tức là con người từ lúc sinh ra cho đến các giai đoạn thiếu niên, thanh niên, trung niên, lão niên, ở mỗi giai đoạn không chỉ thân thể và thể lực thay đổi, mà cả về tâm lý, sinh lý, thậm chí là tư tưởng quan niệm cũng đều có sự biến hóa rõ rệt. Nếu xem tác dụng của Tứ Hóa giống như một nguồn lực thúc đẩy những thay đổi trong suốt đời người thì sẽ rất dễ hiểu. Tức là, tác dụng của Tứ Hóa nhằm làm nổi bật lên đặc tính cụ thể của một số sao nào đó trong từng giai đoạn nhất định, trong khi bản tính nguyên gốc của các sao vốn dĩ không thay đổi do Tứ Hóa gây ra. Do đó, sau khi một sao được dẫn động bởi Tứ Hóa thì ngũ hành thuộc tính của nó vẫn giữ nguyên – bởi Tứ Hóa tự thân không mang thuộc tính ngũ hành.

Vì lẽ đó, Tứ Hóa khiến một số sao nhất định trong mệnh bàn phát sinh tác dụng nổi bật ở một số phương diện, và những tác dụng nổi bật này sẽ khuếch đại các sao ấy, khiến cho chúng hình thành nên một ảnh hưởng mang tính tổng thể trong toàn bộ mệnh bàn. Do đó, Tứ Hóa năm sinh và tổ hợp với các sao sẽ tạo thành yếu tố đặc thù của mệnh bàn đó. Còn Tứ Hóa của vận hạn (đại hạn, lưu niên) thì đóng vai trò như một cơ chế chuyển hóa, điều chỉnh, hoặc phát huy ý thức và tâm thái của một người tại thời điểm đó. Cơ chế tác dụng này, đặc biệt trong bối cảnh hoàn cảnh khách quan có biến động lớn, quyết định khả năng ứng biến của một người – ngoài yếu tố tiên thiên ra, thì hoàn toàn phụ thuộc vào tác dụng biến hóa của Tứ Hóa đại hạn và lưu niên. Do đó, Tứ Hóa của đại hạn và lưu niên cũng đại diện cho một loại tác dụng mệnh lý đặc trưng của một người tại từng giai đoạn nhất định trong cuộc đời.

Do Tứ Hóa trong mệnh bàn bao gồm Tứ Hóa năm sinh (bản mệnh), Tứ Hóa đại hạn và Tứ Hóa lưu niên (tháng, ngày, giờ cũng theo nguyên lý tương tự), mỗi loại Tứ Hóa đóng vai trò tương ứng với từng giai đoạn thời gian khác nhau, cho nên trong thực tiễn luận mệnh, nhất thiết phải xem xét chúng như một cây thống nhất – bao gồm gốc cây, thân cây và tán lá có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nói cách khác, lưu niên phải dựa trên đại hạn, đại hạn phải dựa trên bản mệnh – một quan điểm không thể tách rời.

Do vậy, khi vận dụng Hóa tinh, cần ưu tiên xem trọng bản mệnh trước, kế đến là đại hạn, sau cùng mới là lưu niên. Theo kinh nghiệm thực tiễn luận mệnh cho thấy, khi cùng một loại Hóa tinh (cùng là Lộc, cùng là Quyền, cùng là Khoa, cùng là Kỵ) đồng thời xuất hiện ở cả bản mệnh (hoặc năm sinh), đại hạn và lưu niên thì tác dụng sẽ mạnh mẽ nhất. Nếu muốn phân định mức độ mạnh yếu của sự trùng hợp này, thì đại thể có thể chia làm:

Bản mệnh (hoặc năm sinh) và đại hạn có cùng Hóa tinh: chủ yếu biểu hiện tác dụng trong suốt mười năm đại hạn đó.

Đại hạn và lưu niên có cùng Hóa tinh: chủ yếu biểu hiện trong năm đó.

Cả ba (bản mệnh, đại hạn, lưu niên) đều có cùng Hóa tinh: năm đó trong đại hạn tương ứng sẽ là năm có tác dụng mạnh mẽ nhất.

Nếu chỉ có bản mệnh (hoặc năm sinh) và lưu niên có cùng Hóa tinh, thì tuy vẫn có tác dụng, nhưng vì thiếu Hóa tinh đại hạn làm cầu nối nên lực ảnh hưởng yếu hơn – giống như quan hệ cha con thì gần gũi hơn so với quan hệ ông cháu.

Ngoài ra, các sự trùng hợp nêu trên có thể bao gồm cả tác dụng của tam phương tứ chính lẫn tác dụng của cung bị kẹp. Về tác dụng của cung bị Tứ Hóa kẹp hai bên, sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau.

Các điển tịch cổ truyền sử dụng Tứ Hóa gồm ba loại: Tứ Hóa năm sinh, đại hạn và lưu niên, như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, cho đến nay, về quan điểm và phương pháp sử dụng Tứ Hóa, đúng như tiên sinh Tử Vân đã nói: “Các phiên bản cổ truyền và bí truyền của các phái khác nhau đều không giống nhau, do đó lý luận và phương pháp ứng dụng Tứ Hóa rất đa dạng, khiến người mới học không biết nên theo hướng nào” (chú thích 2).

Để tránh hiện tượng này, cuốn sách này sử dụng hệ thống Tứ Hóa theo quan điểm của tiên sinh Tử Vân (chú thích 2), và liệt kê như sau:

Can Giáp: Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Khoa, Thái Dương hóa Kỵ

Can Ất: Thiên Cơ hóa Lộc, Thiên Lương hóa Quyền, Tử Vi hóa Khoa, Thái Âm hóa Kỵ

Can Bính: Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền, Văn Xương hóa Khoa, Liêm Trinh hóa Kỵ

Can Đinh: Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền, Thiên Cơ hóa Khoa, Cự Môn hóa Kỵ

Can Mậu: Tham Lang hóa Lộc, Thái Âm hóa Quyền, Hữu Bật hóa Khoa, Thiên Cơ hóa Kỵ

Can Kỷ: Vũ Khúc hóa Lộc, Tham Lang hóa Quyền, Thiên Lương hóa Khoa, Vũ Khúc hóa Kỵ

Can Canh: Thái Dương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Quyền, Thái Âm hóa Khoa, Thiên Đồng hóa Kỵ

Can Tân: Cự Môn hóa Lộc, Thái Dương hóa Quyền, Văn Khúc hóa Khoa, Văn Xương hóa Kỵ

Can Nhâm: Thiên Lương hóa Lộc, Tử Vi hóa Quyền, Tả Phụ hóa Khoa, Vũ Khúc hóa Kỵ

Can Quý: Phá Quân hóa Lộc, Cự Môn hóa Quyền, Thái Dương hóa Khoa, Tham Lang hóa Kỵ.