Đối với một số quẻ sự việc đặc biệt, hào Dụng thần phát động khắc hào Thế mà lại là cát lợi, ví dụ như cầu chữa bệnh, hỏi tâm trạng v.v…, nếu Dụng thần xuất hiện tại Nhật kiến hoặc Nguyệt kiến và khắc hào Thế, thì vẫn phản ánh hiện trạng không cát lợi.
Ví dụ cầu tài, nếu xuất hiện hào Tài tại Nhật kiến hoặc Nguyệt kiến khắc hào Thế, thì không phải biểu thị hiện trạng từng có tài lộc hay lợi nhuận, mà là biểu thị từng chịu áp lực vì tiền hoặc hiện tại đang khổ sở vì tiền. Chỉ khi hào Tài trong quẻ phát động khắc hào Thế, mới có thể là dấu hiệu có tài.
Theo lý luận chọn Dụng thần ở phần cơ sở, nếu trên quẻ không có Dụng thần thì có thể lấy từ Nhật Nguyệt; nếu Nhật Nguyệt cũng không có Dụng thần thì tiếp tục tìm trong hào ẩn. Đây là điều nói thẳng trong cổ thư. Khi năng lực thực chiến ngày càng phong phú, sẽ phát hiện rằng giữa các thứ tự này không hề cứng nhắc, thậm chí có rất nhiều trường hợp dù Nhật Nguyệt có Dụng thần, vẫn bỏ qua mà lấy hào ẩn làm Dụng thần. Nguyên nhân là, để lấy Nhật Nguyệt làm Dụng thần thì điều kiện tiên quyết là phải khớp với thực tế sự kiện. Nguyệt kiến, Nhật kiến chính là thông tin phản ánh hiện trạng trực tiếp nhất của sự kiện. Dụng thần khớp với Nhật Nguyệt như thế mới là Dụng thần thực sự.
Ví dụ: vào tháng Ngọ, ngày Nhâm Dần, xem quẻ hỏi phúc tài suốt đời, được quẻ tĩnh “Lôi hỏa Phong” (trích từ 《Tăng Giảm Bốc Dịch》 đời Thanh).
Tướng tinh: Ngọ, Hoa cái: Tuất, Dịch mã: Thân, Tai sát: Tý, Mưu tinh: Thìn, Đào hoa: Mão, Kiếp sát: Hợi, Lộc thần: Hợi, Dương nhẫn: Tý, Văn Xương: Dần, Thiên y: Tị, Thiên hỉ: Sửu, Quý nhân: Mão, Tị
Can Chi:
Tháng Ngọ, ngày Nhâm Dần (tuần không: Thìn Tị)
Chú thích gốc:
Người xưa khi xem tài, thường cho rằng Thê tài khắc hào Thế là tốt, nhưng không biết rằng nếu là xem tài lộc hiện tại thì Thê tài khắc Thế là tất sẽ được tiền; còn nếu là xem phúc tài suốt đời, thì Thê tài khắc Thế chính là suốt đời chịu khổ vì tiền, gặp họa vì tiền.
Quẻ này Thê tài khắc Thế, lại thêm Phụ mẫu giữ quái thân, cả đời lao khổ, hưu tù; lại bị Nhật xung mà trở thành Nhật phá. Như mật của ong, ai khổ ai ngọt? Quả nhiên người này vốn là nông dân nghèo, vất vả cày cấy mà phát đạt, sau vì con trai cờ bạc mà dính vào kiện tụng, tán hết sản nghiệp, tức giận mà chết.
Tra ra mất vào năm Ngọ, chính là vì hào Thế Thân kim bị Ngọ hỏa trong tháng khắc chế, lại bị ngày Dần xung phá, nên gặp hỏa khắc mà tử vong.
Quẻ cầu tài này, hào Thế Thân kim bị Nguyệt kiến là hào Tài Ngọ hỏa khắc chế. Nguyệt kiến đại diện cho quá khứ, tức là hiện trạng trước đây người xem quẻ luôn chịu áp lực tài vận. Quẻ hỏi về phúc tài suốt đời, thì hào Thê tài là tài, hào Tử tôn là phúc, đều là Dụng thần.
Điều đáng sợ nhất là có hào Huynh đệ hoặc hào Phụ mẫu là Kỵ thần giữ hào Thế. Nếu Huynh đệ giữ Thế thì cuối cùng tiêu tài khốn khó, nếu Phụ mẫu giữ Thế thì lao lực mà mất phúc. Quẻ này là quẻ tĩnh, hào Phụ mẫu Thân kim giữ Thế, kết cục khó tránh khỏi kết thúc khốn đốn.
Thông thường, trong quẻ cầu tài, nếu thấy hào Tài khắc Thế là biểu hiện có cơ hội tài vận. Nhưng như chú thích gốc đã nói, quy tắc này chỉ áp dụng cho những việc cầu tài ngắn hạn hoặc trung hạn. Đối với những câu hỏi cầu tài dài hạn hay suốt đời, thì hào Tài khắc Thế lại chính là dấu hiệu không có tài, đồng thời lao lực.
Nếu phân tích sâu nguyên lý, thì đối với quẻ sự việc dài hạn hay suốt đời, thông tin hào Thế bị phóng đại, đã là hào Tài khắc Thế thì hào Thế nhất định là hào Phụ mẫu, mà hào Phụ mẫu vốn đã hàm nghĩa vất vả không kết quả, mâu thuẫn với việc có tài. Cho nên về dài hạn mà nói, ảnh hưởng tiêu cực cuối cùng khi hào Phụ mẫu giữ Thế càng rõ rệt. Dù trong quẻ hào Tài có khắc Thế và có tài, cũng chỉ là khoảnh khắc thoáng qua trong quá trình mà thôi.
Quẻ này cũng không ngoại lệ. Trong quẻ, hào Thê tài Ngọ hỏa khắc hào Thế Phụ mẫu Thân kim. Người này là nông dân nghèo khó, làm ruộng vất vả, từng giàu có trong chốc lát, cuối cùng lại bị con trai phá gia vì cờ bạc mà tiêu tán toàn bộ gia sản.
Vì xu hướng cát hung đã nghiêng về hung, lại càng cần đặc biệt đề phòng thời điểm và chi tiết có thể ứng hiện tai họa. Quan sát toàn bộ quẻ, những điều có thể gây xung khắc bất lợi đối với hào Thế Thân kim không ngoài hai thứ: bị Ngọ hỏa khắc và bị Nhật kiến Dần mộc xung tán. Do đó, nên cẩn trọng vào các thời điểm Hợi, Dần, Ngọ, Mùi – là những thời điểm Ngọ hỏa và Dần mộc vượng.
Chi tiết hơn, Dần mộc xung tán Thân kim lại là hào Tử tôn, tuy chỉ mang lộc thần mà không trực tiếp liên quan đến quý nhân tinh, nhưng khi đặt vào quẻ tượng thì thấy rằng hào Tử tôn Dần mộc ẩn dưới hào Tử tôn Mão mộc quý nhân tại sơ hào, có thể suy đoán là trong số con cái có một người vì tài mà phá sản – cũng là một dạng cảnh báo sớm.
Xuất hiện Nhật kiến, Nguyệt kiến hợp với hào Thế hoặc Dụng thần, vì nội hàm thực tế của “hợp” khá rộng, bao gồm các ý nghĩa như liên quan, liên hệ, mật thiết, quan tâm, dây dưa, hợp tác, thỉnh thoảng xảy ra, v.v… Điều then chốt là, còn phải căn cứ vào tính chất sinh hợp hay khắc hợp, thông tin của quẻ chủ, phương hướng định tính của hào động trong quẻ… rồi mới đưa ra suy đoán tổng hợp là cát hay hung.
Ví dụ như quẻ chủ xuất hiện hình tượng lục hợp khốn cục, lại thêm Nhật Nguyệt hợp với hào Thế, vì quẻ chủ cũng là thông tin hiện trạng, nên sự hợp của Nhật Nguyệt cũng có thể đi theo cách lý giải rằng bị dây dưa bởi quá khứ và hiện tại.
Ví dụ: tháng Tý, ngày Tân Hợi, xem quẻ cầu tài khi đi xa, được quẻ “Sơn Thiên Đại súc” (trích từ 《Tăng Giảm Bốc Dịch》 đời Thanh).
Tướng tinh: Mão, Hoa cái: Mùi, Dịch mã: Tị, Tai sát: Dậu, Lộc thần: Dậu, Dương nhẫn: Thân, Văn Xương: Tý, Thiên y: Hợi, Mưu tinh: Sửu, Đào hoa: Tý, Kiếp sát: Thân, Thiên hỉ: Mùi, Quý nhân: Dần, Ngọ
Can Chi: Tháng Tý, ngày Tân Hợi (tuần không: Dần Mão)
Chú thích gốc:
Hào Thế gặp Dần mộc, tháng Tý ngày Hợi, đều là Thê tài thần mà sinh cho hào Thế, lại thêm hào Ứng là địa đầu, hào Thế và hào Ứng tương sinh, là quẻ đại cát toàn mỹ.
Chỉ duy hào Thế lâm tuần không, nếu theo phép luận cổ, thì vô cớ mà rỗng không, là điềm đại hung. Vậy nay có thể tùy tiện cho xuất hành xa chăng?
Người xem mệnh lại gieo quẻ một lần nữa.
(Sau khi đến nơi, vào khoảng tháng Dần, tháng Mão, mọi việc như ý, đầy ắp mà quay về.)
Quẻ này Nhật kiến là Thê Tài Hợi thủy hợp với hào Thế Dần mộc, tính chất là sinh hợp. Quẻ ra “Sơn Thiên Đại súc”, ngụ ý rằng việc cầu tài hiện tại đã tích lũy lớn hoặc chuẩn bị đầy đủ, có thể xem thông tin hiện trạng này theo chiều hướng tốt, biểu thị rằng hiện tại đang kiếm tiền trên con đường tài lộc liên quan. Vì hào Thê tài Hợi thủy mang Quý nhân, cũng có thể xem là hình tượng thỉnh thoảng hợp tác qua nhân mạch.
Tất nhiên, lần này việc cầu tài mà người xem hỏi tới là địa điểm cụ thể, chính là hào Ứng Thê tài Tý thủy trong quẻ. Nó và Nhật kiến là Thê tài Hợi thủy tạo thành thông tin đối chiếu, cho thấy rằng lần cầu tài đi xa này không có nhiều liên quan đến sự hợp của Hợi thủy trong Nhật kiến, mà ngược lại liên quan tới một số hoạt động kinh doanh từng xảy ra trong quá khứ. Vì sao phân tích như vậy? Bởi vì Thê tài Tý thủy lâm Nguyệt kiến mang Văn Xương, đúng là điểm thông tin hiện trạng về quá khứ (hoặc các thời điểm Tý, Sửu, Ngọ).
Còn về phương diện định tính cát hung, quẻ này lại khá đơn giản. Hào Ứng là Dụng thần chỉ định – Thê tài Tý thủy vượng tại Nhật thần và Nguyệt kiến, hình thành cục quẻ tĩnh “Dụng thần vượng tướng sinh hào Thế” – là cục quẻ cát lợi. Chỉ vì hào Thế Dần mộc đang nằm trong tuần không, hiện tại vẫn chưa xuất hành, hoặc về mặt thời gian thì phải đợi đến tháng Dần điền thực tuần không, mới có khả năng ứng nghiệm cát tường về tài lộc.
Về mặt chi tiết, quẻ này còn có một điểm hội tụ hình tượng rất rõ ràng: chúng ta biết rằng thông thường, hào Thế lâm Huyền Vũ, hào Quan quỷ giữ Thế, hoặc hào Thế lâm tuần không, đều ở mức độ nào đó có thể giải thích là tâm trạng bất an của người xem. Nay quẻ này hào Thế là Dần mộc, lại hội tụ cả ba đặc điểm vừa nêu, khiến cho tâm lý lo được lo mất, bất an dao động của người xem bị phơi bày rõ ràng.
Nếu Nhật kiến, Nguyệt kiến xuất hiện thông tin “sinh – vượng – mộ – tuyệt” đối với hào Thế hoặc Dụng thần, cũng có thể dùng để lý giải hiện trạng quá khứ của sự việc.
Nguyệt kiến hoặc Nhật kiến là “Trường sinh”, mang ý nghĩa là sự việc đã tồn tại từ lâu hoặc hiện đang kéo dài; nếu là “Đế vượng”, có thể ngụ ý hiện tại đang ở giai đoạn cực thịnh; nếu là “Mộ”, nghĩa là trước đây hoặc hiện tại đang bị vùi lấp, che phủ, khó thoát ra; nếu là “Tuyệt”, thì là trước đây hoặc hiện tại gần như đã chấm dứt hoặc rất ít liên hệ.
Ví dụ: tháng Thìn, ngày Bính Thân, xem bệnh của anh em, được quẻ “Ký tế biến Cách” (trích từ 《Tăng San Bốc Dịch》 đời Thanh).
Tướng tinh: Tý, Hoa cái: Thìn, Dịch mã: Dần, Tai sát: Ngọ, Mưu tinh: Tuất, Đào hoa: Dậu, Kiếp sát: Tị, Lộc thần: Tị, Dương nhẫn: Ngọ, Văn Xương: Thân, Thiên y: Mão, Thiên hỉ: Tuất, Quý nhân: Dậu, Hợi
Can Chi: tháng Thìn, ngày Bính Dậu (tuần không: Thìn Tị)
Chú thích gốc:
Nguyệt kiến Thìn thổ tuy khắc hào Huynh đệ Hợi thủy, nhưng may có ngày Thân sinh cho nó, lại được hào động sinh trợ, gặp nguy có cứu.
Quả nhiên, vào giờ Dậu trong ngày đó đã tìm được thầy thuốc nổi danh chữa trị, đến ngày Hợi thì hoàn toàn hồi phục.
Quẻ này Nguyệt kiến là hào Quan quỷ Thìn thổ, khắc mộ Dụng thần là hào Huynh đệ Tý thủy
(Tại sao không lấy Huynh đệ Hợi thủy làm Dụng thần như trong chú thích gốc? Bởi vì “Thế là mình, Ứng là người”, khi hỏi việc của người khác thì ưu tiên lấy hào Ứng).
Điều này biểu thị hiện trạng người anh em đó đã bệnh nặng và rơi vào trạng thái hôn mê.
May mắn là trong quẻ có Nguyên thần là hào Phụ mẫu Thân kim lâm Nhật thần, phát động có ích, sinh trợ cho Dụng thần là Tý thủy, dự báo hiện tại có hy vọng chuyển nguy thành an.
Hào Phụ mẫu lâm Bạch Hổ, mang Văn Xương, mang Lộc thần và xung Mã tinh, nghĩa là “cứu tinh ở ngay nơi này, phải tìm danh y, đừng tiếc tiền của.”
Hào Phụ mẫu này lại hóa ra hào Quý nhân là Huynh đệ Hợi thủy, tạo thành thông tin đối chiếu với hào Thế Hợi thủy – lập tức phải nhờ cậy người thân, bạn bè gần gũi đi tìm giúp ngay.
Kết quả, vào giờ Dậu hôm đó cuối cùng cũng tìm được người, người anh em nhờ vậy mà được cứu sống.
Đặc biệt khi mở rộng đến tầng chi tiết, cùng một yếu tố có thể có nhiều góc nhìn khác nhau.
Ví dụ như Quan quỷ Sửu thổ – là Kỵ thần hợp với Tý thủy – trong lúc phân tích chi tiết về bệnh tình của anh em thì có thể xem như là “ổ bệnh” liên quan đến người anh em.
Với góc nhìn này, hào sơ là hào Thiên y – Tử tôn Mão mộc – chính là dược liệu trị đúng bệnh.
Khi tiêu điểm phân tích chuyển sang chi tiết của “cứu tinh” là Phụ mẫu Thân kim, thì “mộ kim” là Sửu thổ lại trở thành nơi ẩn náu của vị danh y, nằm ở hào hai và lại hợp với Dụng thần Tý thủy, nghĩa là thầy thuốc có thể đang ở gần phương Đông Bắc nơi bệnh nhân.
Lúc này, Tử tôn Mão mộc và Nguyên thần phát động là Thân kim, kết hợp Lục thần tạo thành “Hổ – Tước đối lập”, lại trở thành điểm thông tin chỉ về dược liệu hiện tại.