※ Nếu di dân đến nơi xa (như các quốc gia châu Âu), vận hành “Đại Mệnh” của người có mệnh này sẽ cần đổi sang lấy “cung Thiên Di” lập Thái cực, trở thành “cung Đại Mệnh”, vận hành sẽ có khác biệt rất lớn, hơn nữa chênh lệch múi giờ càng lớn càng tốt, hoặc khí hậu hai bán cầu Nam Bắc trái ngược nhau cũng rất tốt. Về cơ bản, căn cứ vào “Ngũ hành cục” của mệnh người đó để xác định, bắt đầu từ “Thủy nhị cục”. Vì vậy, ít nhất cần chênh lệch 2 đơn vị [15° kinh độ Đông Tây] hoặc [15° vĩ độ Nam Bắc]. Tức = “số Ngũ hành cục” * 2 = chênh lệch Đông Tây 30° kinh độ/hoặc chênh lệch Nam Bắc 30° vĩ độ. Nói cách khác, người thuộc “Kim tứ cục” cần chênh lệch Đông Tây 60° kinh độ/hoặc Nam Bắc 60° vĩ độ. Theo lý suy rộng. Lại lấy ví dụ, người thuộc “Hỏa lục cục” cần chênh lệch Đông Tây 90° kinh độ/hoặc Nam Bắc 90° vĩ độ. Theo lý suy rộng. [Sau khi Thiên Di chuyển cảnh, lấy Đại Thiên Di lập Đại Mệnh, luận vận hành như thế nào?]

 

Vì Tử Vi luận mệnh có quan hệ mật thiết với sáng tối do “nhật nguyệt thăng giáng”, cũng chính là lấy vị trí quan hệ giữa “người” với “Mặt trời & Mặt trăng” tại địa phương đó để luận bàn. Di chuyển giữa bán cầu Đông Tây vẫn hành “Bắc Mệnh Bắc vận”, nhưng từ bán cầu Bắc di chuyển đến bán cầu Nam thì bắt buộc phải đổi sang hành “Bắc Mệnh Nam vận”! Đương nhiên “chênh lệch múi giờ” càng lớn thì hiệu ứng “chuyển cảnh” càng lớn, lấy ngày đêm đảo ngược 12 giờ làm mức lớn nhất.

 

1 • Phàm là người sinh ra tại “bán cầu Bắc” như Đài Loan, Singapore và Malaysia, Trung Quốc đại lục, Hồng Kông và Ma Cao, khi đến nơi xa thuộc múi giờ khác để cư trú lâu dài, du học tại các quốc gia thuộc “bán cầu Nam hoặc Bắc” như châu Âu, Anh, Mỹ, Đức, Pháp, New Zealand, Úc… v.v., vẫn cần lập ra bản Mệnh bàn như cũ.

 

2 • Lấy “Mệnh bàn gốc” làm [Thể], nhưng lấy “Đại Thiên Di” của đại hạn đó lập Thái cực làm “cung Đại Mệnh”, để luận vận hành “Đại Mệnh, lưu niên”.

 

3 • Biến bàn di cung: vì vậy tất cả cung chức của “đại hạn” đều di chuyển vị trí theo cung “Đại Mệnh”.
Tức Đại Hữu biến thành “Đại Huynh”, Đại Quan biến thành “Đại Phu”, Đại Điền biến thành “Đại Tử”, Đại Phúc biến thành “Đại Tài”… v.v.

4 • Trước hết: đại hạn luận mệnh lấy “12 cung Đại Mệnh” mới để thực hiện Tứ hóa, phía trên ứng với cung nào của “Thiên bàn = Bản Mệnh bàn”! Bởi vì “Bản Mệnh bàn” là thứ sinh ra đã có, vĩnh viễn không thay đổi! Khi các cung đại hạn thực hiện Tứ hóa, vẫn cần phía trên ứng với “Bản Mệnh bàn” làm [Thể] để xem vận hành.

 

5 • Thứ yếu: khi luận mệnh, lúc các cung đại hạn thực hiện Tứ hóa, cung nào của Đại Mệnh là [Dụng] cũng thay đổi theo. Đương nhiên sau khi biến bàn, cần đổi sang lấy Tứ hóa đến “Đại Mệnh bàn mới” làm [Dụng] để xem vận hành của mười năm hiện tại. Cũng chính là lấy “12 cung Đại Mệnh” mới để thực hiện Tứ hóa, hiệu ứng tại cung nào của “Địa bàn mới = Đại Mệnh bàn”!

 

6 • Người di chuyển giữa bán cầu Đông Tây, nếu đến một nơi khác cùng thuộc vĩ độ Bắc của “cùng một bán cầu”, Bản Mệnh bàn (làm Thể) không thay đổi.

 

[Bắc Mệnh Bắc vận] dùng “Đại Thiên Di” lập Thái cực làm “Đại Mệnh”, tất cả cung chức đều di chuyển vị trí theo cung “Đại Mệnh”, lưu niên và Lưu Mệnh không thay đổi, phía trên ứng với Bản Mệnh bàn & Đại Mệnh bàn mới! Cũng chính là người sinh sống tại “bán cầu Bắc”, khi luận vận hành “lưu niên”, “địa chi” của Lưu Mệnh không cần thay đổi theo sự biến bàn của Đại Mệnh, năm Tý thì Lưu Mệnh ở cung Tý, năm Sửu thì Lưu Mệnh ở cung Sửu, năm Dần thì Lưu Mệnh ở cung Dần… v.v.

 

Chỉ cần là người di chuyển theo hướng Đông Tây, so với nơi cư trú tại nơi sinh ban đầu trên Trái đất, có “chênh lệch múi giờ” từ 2 giờ trở lên, thì sẽ phát sinh hiệu ứng “chuyển cảnh”.

 

7 • Người di chuyển từ bán cầu Bắc, khi đến “bán cầu Nam” có vĩ độ Nam Bắc khác nhau, Bản Mệnh bàn (làm Thể) không thay đổi, nhưng đổi sang hành “Bắc Mệnh Nam vận”!

 

[Bắc Mệnh Nam vận] dùng “Đại Thiên Di” lập Thái cực làm “Đại Mệnh”, còn “Lưu Mệnh” của lưu niên thì cần “lùi lại 5 năm rưỡi” để biến bàn, phía trên ứng với Bản Mệnh bàn & Đại Mệnh bàn mới tại “bán cầu Nam”!

 

Cũng chính là khi luận vận hành “lưu niên”, “địa chi” của Lưu Mệnh, năm Tý thì Lưu Mệnh cần lùi lại 5 năm rưỡi, đổi thành cung Thân, năm Sửu thì Lưu Mệnh ở cung Dậu, năm Dần thì Lưu Mệnh ở cung Tuất… v.v.

 

8 • Can cung Tứ hóa của các cung Lưu Mệnh: là do “hành vi của bản thân” tạo thành. Nhưng Tứ hóa của “thiên can Thái Tuế”: là sức ảnh hưởng do “đại hoàn cảnh” mang lại, đương nhiên tất cả mọi người đều cùng chịu ảnh hưởng.
“Can Thái Tuế” tại bán cầu Bắc đều không thể thay đổi. “Can Thái Tuế” vẫn là năm Giáp ứng với can Giáp, năm Ất ứng với can Ất,… năm Tân Sửu 2021 ứng với can Tân.
“Can Thái Tuế” tại bán cầu Nam thì cần đổi thành lùi lại 5 năm rưỡi. “Can Thái Tuế” vẫn là năm Giáp ứng với can Tân, năm Ất ứng với can Nhâm, năm Bính ứng với can Quý, năm Đinh ứng với can Giáp, năm Mậu ứng với can Ất, năm Kỷ ứng với can Bính, năm Canh ứng với can Đinh, năm Tân ứng với can Mậu, năm Nhâm ứng với can Kỷ, năm Quý ứng với can Canh.